B607A90C4771564ECC1F513B332E078F

Nhiều người thắc mắc: Tại sao có thủy điện mà lũ vẫn ngập sâu?

Nhiều người thắc mắc: Tại sao có thủy điện mà lũ vẫn ngập sâu?

 

Nhiều người thắc mắc: Tại sao có thủy điện mà lũ vẫn ngập sâu? Câu trả lời nằm ở loại đập, địa hình, và hệ sinh thái địa phương nữa. Khi hạ du ngập trắng, câu chuyện “xả lũ đúng quy trình” lại nóng lên. Cần phải nhìn thẳng vào sự thật:

Nhiều người thắc mắc: Tại sao có thủy điện mà lũ vẫn ngập sâu? KHÔNG PHẢI ĐẬP NÀO CŨNG CẮT ĐƯỢC LŨ
Nhiều người thắc mắc: Tại sao có thủy điện mà lũ vẫn ngập sâu? Loại CÓ THỂ cắt lũ:
  • Hồ đa mục tiêu (vừa phát điện, vừa chống lũ) hoặc hồ chuyên dụng.
  • Đặc điểm: Hồ lớn, có dung tích “chờ lũ” khổng lồ (như Hòa Bình, Sơn La có dung tích ~9 tỷ m³), cũng như khả năng tích nước – giữ nước đáng kể dù đã xả một phần để chờ lũ khi có cảnh báo mưa lớn.
  • Đó là lý do tại sao Trung Quốc luôn cố gắng làm các đập thủy điện khổng lồ như đập Tam Hiệp (Three Gorges Dam) trên sông Dương Tử (Trường Giang) có tổng dung tích 39,3 tỷ m³ và dung tích phòng lũ 22,15 tỷ m³, đập Đan Giang Khẩu (Danjiangkou Dam) trên sông Hán (phụ lưu sông Dương Tử) có tổng dung tích ~33,9 tỷ m³, đập Nọa Trát Độ (Nuozhadu Dam) trên sông Lan Thương (tên gọi của sông Mekong tại TQ) có tổng dung tích 23,7 tỷ m³, đập Tiểu Loan (Xiaowan Dam) trên sông Lan Thương (tên gọi của sông Mekong tại TQ) có tổng dung tích 14,56 tỷ m³… Các đập “cắt lũ” thực thụ của Trung Quốc có dung tích từ 20 – 40 tỷ m³. Nhưng chúng cũng khiến mực nước các dòng sông lớn của lục địa, ví dụ như sông Mekong, trở nên thất thường và hủy hoại hệ sinh thái sông ngòi của ba nước Đông Dương là Lào, Cambodia và Việt Nam (đồng bằng Sông Cửu Long).
Nhiều người thắc mắc: Tại sao có thủy điện mà lũ vẫn ngập sâu? Loại KHÔNG THỂ (hoặc kém) cắt lũ:
  • Thủy điện nhỏ, bậc thang, sông ngắn (đặc trưng miền Trung).
  • Thủy điện “chạy dòng” (Run-of-river) hoặc hồ đã bị bồi lắng.
Nhiều người thắc mắc: Tại sao có thủy điện mà lũ vẫn ngập sâu? Hệ quả: Khi mưa lớn, hồ nhỏ đầy nước rất nhanh ➔ Bắt buộc phải xả để vỡ đập ➔ Không cắt được lũ mà chỉ “dẫn lũ”.
  • Hầu hết thủy điện miền Trung là dạng hồ nhỏ, sông ngắn, dốc. Chúng không có “dung tích phòng lũ đủ lớn”, trong khi hình thái mưa đổ xuống vùng này, kèm theo địa hình dốc, luôn gây ra những đợt lũ lớn trong lịch sử. Mưa xuống là đầy, đầy là PHẢI XẢ. Về bản chất, chúng chỉ làm nhiệm vụ “dẫn lũ” nhanh hơn về hạ du. Rõ ràng là những quy hoạch thủy điện và thủy lợi ở vùng này đều không màng đến việc nghiên cứu kỹ lịch sử và dự phóng tương lai biến đổi khí hậu sẽ dẫn đến lượng mưa ngày càng lớn hơn.
Nhiều người thắc mắc: Tại sao có thủy điện mà lũ vẫn ngập sâu? HIỆU ỨNG “LŨ CHỒNG LŨ”
Tại miền Trung, sông ngắn và dốc, cộng với mật độ thủy điện dày đặc tạo ra hiệu ứng domino:
  • Đập trên xả ➔ Đập dưới đầy nước phải xả theo.
  • Dòng nước xả tập trung từ độ cao (thế năng lớn) tạo ra dòng chảy cực mạnh, gây xói lở và nước dâng đột ngột ở hạ du (vì đoạn đường nước chảy từ chỗ xả đến hạ du ngắn hơn).
  • Khi nhiều đập cùng xả trên một dòng sông ➔ Lũ về hạ du nhanh và đột ngột (Lũ sốc).
  • Hậu quả đến từ tư duy “TẬN THU DÒNG CHẢY”. Những dòng sông bị “băm nát” thành từng khúc. Lũ về hạ du nhanh, sốc và khó lường hơn bao giờ hết.
Nhiều người thắc mắc: Tại sao có thủy điện mà lũ vẫn ngập sâu? GÓC NHÌN THỰC TẾ
  • Mưa tự nhiên rơi dàn trải, nước lên từ từ. Nhưng thủy điện gom hàng triệu khối nước vào một chỗ (tức là hồ chứa), rồi sau đó buộc phải xả tập trung xuống một vùng (Ví dụ: Thủy điện Sông Ba Hạ xả hơn 16.000m³/s ngày 19/11/2025) ngay lúc mưa đang to nhất.
  • Kết luận: Với địa hình và quy hoạch thủy điện nhỏ dày đặc như hiện nay, việc nói thủy điện không làm trầm trọng thêm tình trạng lũ lụt là thiếu thực tế. Ai bao che cho việc thủy điện (đặc biệt là thủy điện nhỏ) không gây thêm lũ lụt nghiêm trọng lúc mưa xối xả dài ngày, thì một là hoặc không hiểu đúng bản chất của vấn đề, hoặc hai là vô cảm trước nỗi đau của người dân vùng lũ.*
Nhiều người thắc mắc: Tại sao có thủy điện mà lũ vẫn ngập sâu? LŨ TỰ NHIÊN KHÁC VỚI LŨ XẢ ĐẬP: ĐỪNG ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM!
  • Thủy điện nhỏ thường chỉ phục vụ cho một số lợi ích riêng của vùng miền hoặc nhóm đầu tư, không đủ khả năng cắt lũ lớn do mưa cực đoan. Vì vậy, họ sẽ không quan trọng hóa (tức là xem thường) vấn đề thiệt hại, và luôn đặt lợi ích lên cao hơn (ví dụ cố tích nước hoặc sợ lãng phí nguồn nước đã tích vì đó cũng chính là thu nhập nguồn tiền của thủy điện, không chịu xả đủ lượng cần thiết vì sợ thiếu hụt về sau (lỡ không mưa đủ), dù có dự báo mưa cực đoan). Cần phân biệt giữa nguồn điện đến từ các thủy điện nhỏ sẽ được dùng làm gì, phân bổ đến đâu, đem lại tiền bạc lợi nhuận cho những ai, đem lại lợi ích hiệu suất (ví dụ như năng lượng điện) đến cho nơi nào. Cần so sánh, kiểm toán và cân đo lợi ích, để xem liệu sau một đợt lũ lớn như vậy, hiệu suất điện thu được từ một thủy điện có đủ bù chi phí thiệt hại cho cộng đồng do nước đổ hay không?
  • Ngoài ra, nếu quy hoạch làm thủy điện nhỏ ở thượng lưu, thì phải cố mà giữ rừng phòng hộ, rừng nguyên sinh. Đó là vì những cánh rừng già cũng đóng vai trò tích nước, điều tiết lượng nước, dàn đều lượng nước bề mặt đất khi có mưa to đổ xuống trên diện rộng. Điều đó giống như bạn xịt vòi nước vào một miếng bọt biển hấp thụ nước, rồi khi nước đầy thì chỉ chảy ra nhẹ bên ngoài. Rừng nguyên sinh nhiệt đới là hệ sinh thái tự nhiên hoàn chỉnh và phức tạp nhất về mức độ hấp thụ lượng nước từ trời. Chúng có nhiều tầng và thảm thực vật dày đặc, có rễ cổ thụ hàng nghìn năm cắm sâu xuống lòng đất từ 3-10 mét, diện tích bộ rễ lan ngang gấp 2-3 lần tán cây, cộng với cây bụi, dây leo, cây ký sinh, rêu, nấm, địa y… Chúng liên kết chặt chẽ với nhau qua hàng thiên niên kỷ để tối ưu hóa chức năng giữ và điều tiết nước ở khu vực nhiệt đới ẩm – nơi thường xuyên hứng chịu một lượng mưa to hàng năm. Đó cũng là lý do vì sao người ta gọi là RỪNG MƯA NHIỆT ĐỚI (Tropical Rain Forest) – ngay từ tên gọi đã đủ toát ra đặc tính và chức năng của những khu rừng này rồi.
  • Hệ thống của rừng mưa nhiệt đới sẽ tạo thành một tấm lưới đan xen, liên kết chặt chẽ từ tầng trên, tầng giữa, tầng đất mặt, cho đến tầng ngầm dưới lòng đất. Các tầng ở phía trên như miếng bọt biển chia nhỏ nguồn nước mưa từ trời xuống, cũng như bơm hơi ẩm ngược lại để tạo mưa và điều hòa khí hậu trong vùng. Tầng rễ bên dưới sẽ cố kết như lưới thép đổ vào lòng đất, gia tăng sức chịu đựng tối đa, làm giảm áp lực dòng nước ngầm và nước chảy bề mặt. Đó là chưa nói đến thảm cây mục, gỗ đổ, lá rơi nữa. Đó là lý do vì sao chuyện sạt lở đối với rừng nguyên sinh là rất hiếm, trừ khi một phần rìa của chúng bị tác động khí hậu hoặc công trình của con người làm cho bị phong hóa và yếu đi. Cùng một lượng mưa 500mm đổ xuống rừng nguyên sinh trong vòng 6 giờ, thì lượng nước chảy ra các lạch suối chỉ khoảng 20-30%. Số nước còn lại sẽ được giữ trong đất, rễ cây và thảm mục của rừng già.
  • Tất cả các loại rừng còn lại đều gọi là thứ sinh (rừng trồng, đồn điền, rừng độc canh, đồi trọc trồng cây công nghiệp), thì làm sao sánh được với rừng nguyên sinh. Bộ rễ của chúng không đủ sức để đâm sâu. Mỗi đợt khai thác như một lần cạo trọc làm lại từ đầu, nên lớp đất mặt sẽ bị thoái hóa rất nhanh. Chỉ cần 2-3 ngày mưa to là đủ để gây sạt lở cả một mảng lớn.
  • Vì vậy, không có loài sinh vật nào trên hành tinh này lại quá tham lam và tinh ranh như vậy, khi vừa muốn có thủy điện (lợi dụng sức nước), lại vừa đi phá rừng (cơ chế điều tiết nước) để lấy gỗ nguyên khối, tấm lớn về kê mông và bán lấy tiền. Cái gì cũng muốn cả, khôn hết cả lòng trời, muốn leo lên làm “cha nội Ông Trời”, thì sẽ lãnh hậu quả tất yếu.
  • Trong tương lai, mưa ngày càng lớn, vì lượng hơi ẩm gia tăng khi bầu khí quyển ngày càng ấm lên. Quy luật này rất đơn giản. Cứ đun nồi nước thì sẽ hiểu thôi. Ấy thế mà, con người vừa muốn bay nhảy, vừa muốn đốt nhiên liệu hóa thạch, vừa muốn ăn xài xả láng. Người thì muốn gỗ. Người thì muốn nước. Người thì muốn điện. Người thì muốn tiền. Người thì muốn có xăng dầu để hoạt động cỗ máy công nghiệp. Người thì muốn bay nhảy du lịch. Lòng tham chất chồng lòng tham, đến Trời Đất mà cũng còn chịu không thấu. Các đợt mưa – bão – lũ – hạn hán cực đoan xảy ra liên miên ở miền Bắc, miền Trung Việt Nam, cũng như ở Trung Quốc, Mỹ, Châu Âu, Australia vừa qua chỉ là phản ứng của thiên nhiên gào rú trở lại cơn cuồng loạn của loài người. Chúng là QUẢ BÁO đến từ hành động của mỗi con người trong hệ thống kinh tế tư bản và vị tăng trưởng này – không có gì lạ cả. Ở đâu cũng xảy ra vấn đề nghiêm trọng này, không phải chỉ ở tại Việt Nam đâu.
  • Tại sao chúng ta đang chứng kiến những cơn siêu bão lớn nhất năm như Melissa ở Caribe, tại sao ta đang chứng kiến lượng mưa lớn kỷ lục thứ hai thế giới tại Huế vừa qua, tại sao siêu bão Yagi đã đẩy một lượng nước lớn vào vùng thượng du miền Bắc vào năm 2024, khiến thủy điện Thác Bà ná thở?
  • Nguyên lý này đơn giản thôi — hàng tỉ chiếc xe nhả khói, hàng tỉ máy bay nhả khói, hàng tỉ… thứ do con người tạo ra bằng cách đốt nhiên liệu hóa thạch đã đẩy nền nhiệt độ địa cầu tăng lên ngưỡng +1.5 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp (năm 1800).
  • 1.5°C, ai nghe qua cũng chặc lưỡi… “ôi, có tí thôi.” Nhưng bạn thử sốt 1,5 độ C so với thân nhiệt bình thường mà xem!
  • Khi nước biển đại dương tăng tầm 1.1°C thì nó đã mang một nhiệt lượng khổng lồ bằng hàng triệu quả bom nguyên tử – loại thả xuống Hiroshima (Nhật Bản vào năm 1945). Và để làm nguội được khối năng lượng đó, cần phải có rất nhiều mưa và những cơn siêu bão.
  • Nước biển cần nhiều hơn 3.000 lần nhiệt lượng so với không khí để làm nóng cùng một thể tích lên 1°F.
  • Nhiệt độ nước biển phía Nam Jamaica đã cao hơn 2°F (~1.1°C) so với mức bình thường lúc mà cơn bão Melissa đi qua. Việc tăng 2°F với không khí thì dễ dàng, nhưng tăng 2°F đối với nước biển thì sẽ cần một nguồn năng lượng khủng khiếp. Điều đó dẫn đến cơn siêu bão Melissa bùng nổ cách đây hai tuần lễ ở vùng biển Caribbean.
  • Để giải thích điều này theo khoa học, chúng ta nên biết rằng: Nhiệt dung riêng của nước biển: ~4.0 J/g·°C, của không khí khô: ~1.0 J/g·°C (chỉ bằng 1/4 của nước)
  • Nước biển cần ~4 lần năng lượng để tăng 1°C so với cùng khối lượng không khí. Nhưng vì mật độ nước (~1000 kg/m³) > mật độ không khí (~1.2 kg/m³), nên thể tích nước nặng hơn ~833 lần. Nước biển sẽ cần ~4 × 833 = ~3.332 lần năng lượng để tăng 1°C so với cùng thể tích không khí. Lượng nhiệt tích trong các khối nước biển là do hiện tượng ấm lên toàn cầu trong vòng từ 3-5 thập kỷ qua, khi thế giới hối hả thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng các đại công xưởng toàn cầu đốt than đá và dầu diesel. Khối năng lượng đó, được giữ lại dưới dạng mật độ khí nhà kính đủ để bắt giữ thêm nhiệt lượng từ bức xạ Mặt Trời so với ngày xưa, và hâm nóng cả hành tinh.
  • Nhiệt lượng khổng lồ đó là nhiên liệu hoàn hảo cho các cơn bão tăng cường độ một cách chóng mặt để làm mát đại dương theo cơ chế tự nhiên, hoặc một lượng mưa đến hàng ngàn mm — tạo nên hiện tượng mà chúng ta đang chứng kiến với siêu bão Melissa, đợt mưa xối xả tại Huế – Hà Nội – Thái Nguyên, và bây giờ là Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định. Đã đến lúc chúng ta phải nghiêm túc nhìn nhận về một kỷ nguyên đột biến khí hậu, và hãy cẩn trọng trong mọi hành động của cá nhân, nếu điều đó góp phần làm Trái Đất nóng lên về nghĩa đen.
  • Trong ảnh là con đập thủy điện – thủy lợi hạng ruồi ở bang Minnesota (Hoa Kỳ) bị vỡ trong đợt mưa cực đoan hồi tháng 6/2024. Thảm họa này đã làm ngập miền Nam bang này từ 0,5 đến 1 mét nước, gây thiệt hại gần 30 triệu đô la tài sản.
  • Nhiều quốc gia trên toàn cầu đang tiến hành công việc tháo dỡ đập nước cũ kỹ và không đủ khả năng vận hành an toàn, được xây từ đầu thế kỷ 20 (tuổi đời 50-100 năm). Chúng đã xuống cấp, bê tông nứt vỡ, nguy cơ vỡ đập cao. Chi phí sửa chữa đắt hơn nhiều so với phá bỏ. Việc tháo dỡ đập (dam removal) đang trở thành một làn sóng lớn tại Mỹ và Châu Âu. Đây không phải là hành động phá hoại bừa bãi mà là những công trình kỹ thuật ngược cực kỳ phức tạp, tốn kém và được tính toán tỉ mỉ nhằm phục hồi hệ sinh thái. Việc phá đập khó hơn xây đập vì phải xử lý lượng nước và bùn khổng lồ đang bị giữ lại. Họ thường dùng phương pháp “Rút củi đáy nồi” (Notch and Release).
  1. Bước 1: Hạ thấp mực nước từ từ (Drawdown) Họ không phá vỡ đập ngay lập tức vì sẽ gây ra lũ quét (“nhân tạo”) cho hạ du. Thay vào đó, họ mở hết các cửa xả hoặc đục các lỗ hổng nhỏ (notches) trên thân đập để nước rút dần dần. Quá trình này có thể kéo dài vài tháng
  2. Bước 2: Xử lý “bom nổ chậm” – Bùn lắng (Sediment Management) Đây là bước quan trọng nhất. Sau hàng chục năm, đáy hồ chứa hàng triệu tấn bùn đất (đôi khi chứa cả chất độc hại). Nếu xả ồ ạt, lượng bùn này sẽ chôn vùi hạ lưu, giết chết mọi sinh vật. Cách làm: Họ cho dòng nước cuốn trôi bùn đi từ từ theo từng đợt kiểm soát, hoặc trong một số trường hợp phải nạo vét bùn đem đi nơi khác trước khi phá đập.
  3. Bước 3: Phá hủy bê tông (Deconstruction) Họ dùng thuốc nổ (để gây nứt) kết hợp với máy xúc thủy lực hạng nặng đục phá từng mảng bê tông từ trên xuống dưới. Ví dụ tại sông Elwha, họ phải dùng các xà lan nổi trên mặt hồ, mang theo máy xúc để “gặm” dần con đập cho đến khi nó biến mất.
  4. Bước 4: Phục hồi lòng hồ (Revegetation) Khi nước rút đi, để lại một vùng đất bùn lầy rộng lớn (đáy hồ cũ). Các kỹ sư và nhà sinh thái học sẽ ngay lập tức rải hàng tấn hạt giống và trồng hàng triệu cây xanh bản địa vào khu vực này để giữ đất, ngăn xói mòn và tái tạo rừng.
Các dự án điển hình bao gồm:
  • Phá bỏ 4 con đập lớn chắn ngang sông Klamath (biên giới giữa hai bang Oregon – California của Hoa Kỳ), mở lại 600km đường sông cho cá hồi Chinook bơi về đẻ trứng. Các đập đã được phá bỏ xong vào năm 2024. Dòng sông đã chảy tự do lần đầu tiên sau 100 năm. Cá hồi đã bắt đầu quay trở lại ngay lập tức. Đó chẳng phải là kho báu cho cộng đồng dân cư xung quanh dòng sông này hay sao, thay vì tiền chảy vào túi đám tư bản lợi ích điều hành con đập?
  • Phá bỏ 2 đập thủy điện lớn (Elwha và Glines Canyon) trên sông Elwha. Sau 10 năm, lượng phù sa được giải phóng đã kiến tạo lại các bãi bồi cửa sông, bờ biển được mở rộng, và số lượng cá hồi tăng đột biến.
  • Tháo dỡ 2 con đập thủy điện lớn là Vezins (cao 36m) và La Roche-qui-Boit (cao 16m) trên sông Sélune ở Pháp. Dự án bắt đầu từ năm 2019 và hoàn tất vào năm 2022. 90km sông đã được khơi thông. Chỉ sau vài tháng, người ta đã thấy cá hồi và các loài thủy sinh quay trở lại những khu vực mà gần 100 năm qua chúng không thể tới. Chất lượng nước được cải thiện rõ rệt do dòng chảy không còn bị tù đọng.
  • Tây Ban Nha là quốc gia dẫn đầu châu Âu về Số lượng rào cản được tháo dỡ (năm 2021 tháo dỡ hơn 100 đập/đập tràn). Đập Yecla de Yeltes ở Salamanca chặn dòng sông Huebra bị phá bỏ hoàn toàn vào năm 2018. Dòng sông hiện nay chảy trong xanh, lộ ra những bãi đá tự nhiên và hệ sinh thái ven sông phát triển mạnh mẽ. Tây Ban Nha chủ trương phá bỏ triệt để các đập “thây ma” (đập không còn chủ sở hữu hoặc hết hạn sử dụng).
  • Đập Sindi (từng thuộc một nhà máy len) đã chặn sông Pärnu – con sông dài nhất Estonia – trong hơn 150 năm. Nó chặn đứng 90% bãi đẻ trứng của cá hồi. Chính phủ Estonia đã mua lại đập này và phá bỏ nó vào năm 2019. Thay vì chỉ phá bỏ, họ tạo ra một đoạn ghềnh đá nhân tạo có độ dốc thoai thoải, giúp cá dễ dàng vượt qua mà vẫn giữ được cảnh quan đẹp cho hoạt động chèo thuyền kayak, mở lại 3.000 km đường sông cho cá di cư. Số lượng cá hồi sinh sản tăng vọt ngay trong năm đầu tiên.
  • Tháo dỡ một chuỗi 3 đập thủy điện nhỏ (Kangaskoski, Lahnasenkoski và Ritakoski) trên sông Hiitolanjoki tại Phần Lan. Sau khi phá đập, khu vực này trở thành điểm đến du lịch sinh thái nổi tiếng. Người dân địa phương nhận ra rằng dòng sông chảy tự do cứu loài cá hồi hồ Ladoga cực kỳ quý hiếm (loài cá hồi nước ngọt không di cư ra biển), thu hút khách du lịch mang lại lợi ích kinh tế bền vững hơn nhiều so với lượng điện ít ỏi mà các đập cũ tạo ra.
  • Châu Âu trong năm 2023 đã phá kỷ lục khi tháo dỡ gần 500 rào cản/đập nước trên các dòng sông chính (dẫn đầu là Tây Ban Nha, Pháp, Thụy Điển). Mục tiêu của EU là giải phóng 25.000 km sông chảy tự do vào năm 2030. Điều đó mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư nhiều hơn là các đập nước mang lại dòng điện. Muốn thế, cư dân địa phương phải chấp nhận sống đơn giản, khách du lịch đến thăm vùng miền cũng được hưởng lối sống giản dị ấy, nhưng lại được hưởng nhiều lợi ích khác như cá ngon từ thiên nhiên, dòng nước sông chảy hiền hòa… Thế giới (đặc biệt là phương Tây) đang chuyển dịch tư duy từ “chinh phục thiên nhiên” (xây đập) sang “thuận theo thiên nhiên” (phá đập). Họ chấp nhận mất đi một nguồn điện nhỏ để đổi lấy sự hồi sinh của cả một hệ sinh thái và sự an toàn lâu dài cho cộng đồng. Điều quan trọng hơn, họ không chỉ “phá” mà là đang “chữa lành” vết thương của các dòng sông một cách rất khoa học. Thiên nhiên quay trở lại nhanh hơn con người dự tính. Chỉ sau 1-2 năm, dấu vết của con đập gần như biến mất.
  • Các bạn thấy đấy. Khi con người bớt tham, biết giảm nhu cầu trong cuộc sống, biết sống chia sẻ và yêu thương, biết tôn trọng và giữ gìn hệ sinh thái như nó vốn có, thì nhiều khi thiên nhiên lại ban tặng các món quà vô giá cho tất cả cộng đồng sống ven bờ lưu vực của một dòng sôn được trả tự do, thay vì là tiền chỉ chảy vào túi chủ các đập thủy điện nhỏ này. Đừng quá cố chấp, vì sẽ đến một ngày nào đó, lòng tham sẽ phải trả giá bởi tất cả mọi thứ – vì không đế quốc nào chống lại được sức mạnh của 5 yếu tố ngũ hành KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ cả
  • Tuy nhiên, việc dỡ đập ở miền Trung Việt Nam (nếu có trong một tương lai xa lạ), thì cũng còn phải tính đến việc khôi phục và trồng lại rừng mưa nhiệt đới, rừng phòng hộ đa tầng, đa tán, đa chủng loại. Đó là vì địa hình ở đây đã bị cạo trọc gần hết, nên việc dỡ đập nhiều khi cũng chưa thể giúp giải quyết vấn đề lũ lụt. Đó là lời nguyền mà con người phải nhận, sau khi đã lỡ xô đổ mọi thứ bảo vệ họ từ ngàn xưa. Đâu rồi câu thơ “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” – chẳng lẽ con người bạc bẽo và quên mất điều đó nhanh đến thế trước sức mạnh của mùi TIỀN?
  • Cuối cùng, nhiều bạn khuyên tại sao lại không dùng công nghệ đuổi mây như Nga, Mỹ, Trung Quốc…? Đó là sự dại dột nhất mà chúng tôi từng nghe được. Đó là bước đi lấn sang một ranh giới mới do lối suy nghĩ đầy kiêu căng và trịch thượng – không cần biết đến hậu quả, sau khi đã tàn phá rừng, đắp đập, xả thải… của con người.
  • Bộ các bạn nghĩ rằng các quy luật tự nhiên về mặt vật lý sẽ để yên cho các bạn làm điều đó sao? Hãy kiểm chứng lại về việc bang Florida – North Carolina, sau siêu bão Helene và Milton năm ngoái, đã cố dùng công nghệ đuổi mây khỏi vùng này trong năm nay, rồi sau đó, nạn hạn hán đang xảy ra trên diện rộng. Cùng lúc đó, siêu bão Melissa xuất hiện và đổ vào hàng loạt nước nghèo ở biển Caribean bên dưới, trong đó Jamaica, Costarica, Cuba, Haiti đều là nạn nhân. Hãy nhớ rằng, hiệu ứng cánh bướm sẽ không chừa các bạn ra đâu.
  • Khi bắn vào nền khí hậu hôm nay, các bạn giàu và quyền lực có thể tránh được, nhưng tầng lớp nghèo đói ở các quốc gia làm bệ đỡ gia công hàng hóa với sức lao động giá rẻ cho đế quốc sẽ biến mất vì thảm họa thay thế. Khi ấy, người ta sẽ buộc phải chế tạo robot để thay thế lực lượng lao động, rồi bắt đầu thay thế cả chính giới bình dân và trung lưu ở các quốc gia giàu luôn. Các hậu quả tiếp theo chính là một loài người bị thanh lọc theo kiểu tinh vi nhất, trở nên tàn tạ và suy đồi. Số dân cư ít ỏi còn sống sót của thế hệ tương lai sẽ chứng kiến điều đó – và đấy là NGHIỆP mà cha ông chúng đang dành cho chúng, nhờ kiểu ngông cuồng và tham vọng không giới hạn trong hiện tại.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *